Logo javascript
Để sử dụng đầy đủ tính năng của website này, chúng tôi yêu cầu bạn phải bật JavaScript!
Hoặc click vào đây để được hướng dẫn kích hoạt cho trình duyệt của bạn
Kiến thức nông nghiệp

Tiềm năng, cơ hội và những nút thắt cần tháo gỡ để phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam

Ngày Đăng: 24/12/2018 - Lượt xem: 342

TIỀM NĂNG, CƠ HỘI VÀ NHỮNG NÚT THẮT CẦN THÁO GỠ

ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ TẠI VIỆT NAM

PGS.TS. Mai Thành Phụng – TS. Nguyễn Đăng Nghĩa  

 

Theo định nghĩa của IFOAM (2008, GA Vignola) thì : “ Nông nghiệp hữu cơ (NNHC)  là một hệ thống sản xuất bền vững cho sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người. Hệ thống này dựa vào các quá trình sinh thái , sự đa dạng sinh học và các chu trình thích nghi với các điều kiện địa phương , thay vì sử dụng các nguyên liệu đầu vào với hậu quả bất lợi. Nó kết hợp truyền thống, sự đổi mới và khoa học để có lợi cho môi trường chung và thúc đẩy mối quan hệ công bằng và chất lượng cuộc sống tốt đẹp cho tất cả những người tham gia”. NNHC sẽ đem lại một số lợi ích sau:

+ Đem lại nhiều lợi ích cho môi trường Sinh thái;

+ Đặc biệt, đem lại lợi ích vô cùng hữu hiệu cho sức khỏe của đất trồng trọt;

+ NNHC đem lại cho môi trường nước được sạch hơn, giảm tối đa sự ô nhiễm;

+ Đem lại một bầu không khí  trong sạch hơn (lợi ích về không khí); + NNHC đem lại nguồn lợi ích về đa dạng sinh học;

+ NNHC sẽ không còn nguy cơ đe dọa bởi CN GMO (giống biến đổi gen);

+ Có thêm lợi ích về mặt xã hội;

+ NNHC sẽ đem lại sự ổn định về lương thực trên thế giới (Lợi ích kinh tế).

Ngành nông nghiệp Việt Nam (NNVN) từ sau ngày giải phóng (30/4/1975) đã trải qua hơn 40 năm phát triển đổi mới, ngoài thành tích của ngành đem lại uy tín cho nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới thì NNVN cũng để lại khá nhiều nguy cơ tiềm ẩn và hậu quả không nhỏ đến môi trường đất, nước và hệ sinh thái. Có thể kể ra một số hậu quả sau:  

  •      - Áp dụng quá lâu những thao tác nông nghiệp dẫn đến ít hoặc kém hiệu quả;
  •      - Làm mất cấu trúc đất canh tác, diện tích đất thay đổi, tăng lượng phân bón vô cơ;
  •      - Tăng lượng thuốc hóa học (trừ sâu và cỏ dại);
  •      - Tăng khí thải CO2 và tăng sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Từ đó thải ra 58% khí ôxit nitrit (N2O), 47% khí thải metan (CH4) làm cho hiệu ứng nhà kính, tăng lên 18% chất thải gây hiệu ứng nhà kính do phá rừng lấy đất canh tác;
  •      - Làm lượng Phosphore trong các hệ thống nước ngọt đã tăng 75% và luồng thải P ra biển tăng 10 triệu tấn/năm. Hiện tại (tính đến tháng 12/2017) ở Việt Nam hàng năm nông dân sử dụng hàng ngàn tấn các chủng loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ sâu bệnh, thuốc  trừ cỏ.

           Do vậy, nông nghiệp truyền thống gây ra hàng chục triệu trường hợp ngộ độc thuốc BVTV hóa học và dẫn đến hơn 48.000 ca chết người mỗi năm (FAO, 2015), trong đó, người nông dân chiếm gần 70% (theo tồng kết của ngành Y tế tổ chức tại Cần thơ tháng 11 năm 2017). Ngoài ra, nguy cơ ảnh hưởng xấu tới nông sản Việt nam trên thị trường thế giới và nội địa sẽ xảy ra nếu NNVN không chấn chỉnh và sớm chuyển đổi qua NNHC.

          Như vậy, việc chuyển hướng từ nông nghiệp truyền thống sang NNHC hay nông nghiệp theo hướng hữu cơ là một xu hướng tất yếu mà ngành NNVN phải nhận thức và hành động. Ngay từ bây giờ chúng ta chuyển hướng thì cũng có nhiều thuận lợi. Có thể kể ra một số cơ hội  mà chúng ta muốn phát triển NNHC.

Cơ hội để phát triển NNHC tại Việt Nam.

+ Cơ hội đầu tiên là: Chính phủ và Bộ NN Việt Nam đã ban hành kế hoạch tái cấu trúc ngành nông nghiệp.  

+ Cơ hội thứ hai là: Việt Nam đã ban hành Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm ( Luật VSATTP năm 2010). Đồng thời VN cũng đã có mối quan hệ ngoại giao với 178 Quốc gia và Hội nhập với thế giới: Là thành viên của Liên hiệp quốc; UNESCO; WTO; APEC; ASEAN; ASEM; FTA; TPP…Do vậy khi nông sản VN đã sản xuất theo tiêu chuẩn, qui chuẩn của NNHC và đã được xác nhận hay  chứng nhận của các tổ chức IFOAM, USDA,  EU… thì thị phần của nông sản VN sẽ được mở rộng hơn. 

+  Cơ hội thứ ba: Hiện tại, người tiêu thụ nông sản (lương thực và thực phẩm) trên thế giới và nội địa đã nhận thức và ý thức được về vấn đề VSATTP vì vậy nhu cầu về sản phẩm của NNHC sẽ ngày càng tăng cao.

+ Cơ hội thứ tư là: Các Doanh nghiệp nông nghiệp của Việt Nam và DN nước ngoài quan tâm tới việc tiêu thụ nông sản VN đã bắt đầu quan tâm tới việc xây dựng Liên kết chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Do vậy, nếu sx theo NNHC thì sản phẩm của các liên kết sẽ có thương hiệu và sẽ mở rộng thị trường.    

          Việt nam khi  chuyển sang phát triển  sang NNHC ngoài những cơ hội thuận lợi từ trong tới ngoài nước ra thì Việt Nam cũng còn ẩn chứa một số tiềm năng sẵn có và cần khai thác có hiệu quả. Một số tiềm năng có thể liệt kê như sau.

Tiềm năng hiện tại của Việt Nam để phát triển NNHC:

          + Việt Nam là một Quốc gia nằm trong vùng Nhiệt đới có nhiều loại nhóm đất với tính chất Thổ Nhưỡng khác nhau. Chính vì  thế có nhiều loại nông sản (đa dạng sản phẩm) rất đặc trưng cho nông sản Nhiệt đới và Á nhiệt đới. Vì vậy, khi canh tác theo NNHC sẽ là một ưu thế cạnh tranh khá mạnh cho nông sản VN.   

           + Tiềm năng tiếp theo đó là trữ lượng của một số loại nguyên liệu để sản xuất những loại phân hữu cơ (đầu vào cho sản xuất NNHC).  

          + Việt Nam hiện có một nguồn phân chuồng (phân động vật ) vô cùng phong phú về chủng loại và sản lượng. Đây là một trong những loại nguyên liệu vô cùng hữu hiệu để sản xuất phân hữu cơ.

          + Ngoài ra, một loại nguyên liệu vô cùng quí báu và dồi dào để sản xuất các loại phân hữu cơ – đó là than sinh học (Biochar). Than sinh học ở Việt Nam có thể sản xuất bằng các nguồn nguyên liệu là những phụ phẩm của chính ngành nông nghiệp – đó là: Vỏ trấu; vỏ Cà phê, mụn xơ dừa, bã khoai Mỳ (Sắn). Như vậy, nếu khai thác hiệu quả các nguồn phụ phẩm này để sản xuất Than sinh học (Biochar) thì đây chính là nguồn nguyên liệu rất quí để sản xuất phân hữu cơ phục vụ và cung ứng cho NNHC tại Việt Nam.

       Muốn phát triển NNHC ở Việt Nam thì ngoài việc tận dụng các cơ hội đang có, khai thác có hiệu quả và tận dụng thật tốt những tiềm năng còn ẩn chứa, chúng ta cần phải tìm giải pháp và  xây dựng một kế hoạch, tiến độ nhằm khắc phục những tồn tại đang còn cản trở sự phát triển NNHC của Việt Nam.

Những tồn tại, khó khăn:

          + Việt Nam là một trong những nước sản xuất nông nghiệp hàng đầu thế giới, tuy nhiên, phương thức canh tác của nông dân từ trước đến nay là lạm dụng nhiều phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, biến môi trường và đất canh tác ngày càng xấu đi, áp lực sâu bệnh ngày càng trầm trọng.

          + Hầu hết đất Việt Nam hiện tại có phản ứng chua (pH < 6,0) 

          + Nghèo các dinh dưỡng đa lượng, trung lượng đặc biệt các chất dễ tiêu

          + Nhiều vùng đất bị thoái hóa, giảm sức sản xuất

          + Xuất hiện nhiều yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất cây trồng

         + Cân bằng dinh dưỡng không ổn định và chuyển dịch theo hướng mất cân bằng dinh dưỡng trong đất gây nhiều bất lợi cho sự phát triển của cây trồng

          + Phát triển nhiều dịch hại trong đất và trên cây trồng theo hướng xấu.

          Như vậy, rất khó có thể tìm được một diện tích đất trồng trọt có đủ tiêu chuẩn sạch dể thỏa mãn được các yêu cầu và Qui chuẩn của IFOAM, USDA (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ) và các tổ chức hữu cơ khác.

   

no photo

_tensanpham

Giá: 0 đ

Mô tả