Logo javascript
Để sử dụng đầy đủ tính năng của website này, chúng tôi yêu cầu bạn phải bật JavaScript!
Hoặc click vào đây để được hướng dẫn kích hoạt cho trình duyệt của bạn
Kiến thức nông nghiệp

Bảo vệ thực vật trên nền tảng hữu cơ

Ngày Đăng: 24/12/2018 - Lượt xem: 395

BẢO VỆ THỰC VẬT TRÊN NỀN TẢNG HỮU CƠ

PGS.TS. Mai Thành Phụng

  •      - Quản lý sâu bệnh hại trên nền tảng hữu cơ (organic-based plant protection) mang tính chất mềm dẻo và linh hoạt, không hoàn toàn như nông nghiệp hữu cơ theo nguyên tắc IFOAM, có vận dụng trong những trường hợp bắt buộc phải dùng hóa học
  •      - Nông nghiệp hữu cơ làm cho đất khỏe, động vật và thực vật đều khỏe, con người và hành tinh của chúng ta không tách rời nhau, luôn phụ thuộc nhau.
  •      - Quản lý dựa trên nguyên tắc hệ thống sinh thái và chu kỳ sinh học sống động.
  •      - Đảm bảo tính thân thiện với môi trường và cơ hội cho tất cả các loài sinh vật.
  •      - An toàn môi trường cho thế hệ con người trong tương lai.

Ngành bảo vthực đã và đang trải qua c hình thức quản lý u bệnh hại y trồng như sau:

     BVTV  truyền  thống: Sử dụng thuốc hóa học để tiêu diệt đối tượng gây hại. Người ta chỉ sử dụng thuốc khi đối tượng vượt đến ngưỡng gây hại cho cây (damage threshold).

     Quản lý dịch hại tổng hợp: Tổng hợp nhiều biện pháp sinh học, công nghệ sinh học, hóa học, canh tác học, cải tiến giống; có xem xét đặc biệt yếu tố môi trường; khai thác tương tác môi trường và sinh vật có ích; thay thế thuốc hóa học có hại bằng thuốc ít hại.

     Quản  lý  sâu  bệnh  theo  phương  pháp  hữu  cơ: (1) Ngăn ngừa sâu bệnh hại, và cỏ dại thông    qua hệ thống cây trồng tối ưu như một nguyên tắc bao quát nhất; (2) Không tiêu diệt hoàn toàn sâu hại, bệnh hại, trên cơ sở xác định ngưỡng kinh tế, quản lý sự cân bằng sinh thái; (3) Xây dựng hệ thống nông nghiệp có tính chất giải quyết vấn đề khi sâu bệnh tấn công, ví dụ như giống cây trồng kháng sâu bệnh, thay thế thuốc có hại bằng thuốc ít có hại trong trường hợp bắt buộc.

HƯỚNG TIẾP CẬN VỚI NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ

     - Xây dựng chiến lược bảo vệ thực vật nhằm mục tiêu loại trừ các nguyên nhân làm xuất hiện hay bộc phát đối tượng gây hại cây trồng và tạo ra các điều kiện phục vụ cho quản lý dịch hại thành công.

     - Phương pháp gián tiếp trong BVTV: ngăn ngừa dịch hại thông qua hệ thống canh tác thân thiện với môi trường, sử dụng giống kháng, giống chống chịu.

     - Phương pháp trực tiếp BVTV: đấu tranh sinh học (biocontrol), cơ – nhiệt học (mechanical and thermic methods).

1. CHIẾN LƯỢC BVTV

Trong phương pháp ngăn ngừa sâu bệnh hại xảy ra: Stoeva (2014) đề ra lý thuyết suitable production site” (nơi sản xuất hợp lý), cây trồng thích nghi với đất và khí hậu, điều kiện tăng trưởng và phát triển của cây trồng tối hảo, cây che bóng, cây trụ đỡ (support) không là ký chủ phụ của sâu bệnh hại, ẩm độ đất, đặc điểm hóa lý của đất được nghiên cứu kĩ, nhất là quần thể tuyến trùng gây hại có thể tăng trưởng theo thời gian với điều kiện cho phép. Tác giả nhấn mạnh yếu tố ánh nắng mặt trời và độ dốc mặt ruộng có tác dụng tích cực trong ngăn ngừa sâu bệnh hại.

Quản lý dinh dưỡng là chìa khóa trong ngăn ngừa u bệnh hại có tính chất kinh điển nhất. Hàm lượng hữu cơ trong đất phải được quản lý theo hướng có lợi nhất cho y sdụng c phân khoáng hiệu qucao. Đi liền với hữu cơ trong đất là hoạt động của biết bao vi sinh vật có ích và nhiều loài sinh vật khác, đóng vai trò dịch vtnhiên trong kiểm soát đối tượng y hại, hoặc hạn chế quần thcủa chúng dưới ngưỡng y hại. Phân chuồng, phân xanh, phân ủ được nhấn mạnh với stương c của c chủng vi sinh, nhằm thúc đẩy quá trình mong muốn xảy ra thuận lợi trong đất.

Kỹ thuật canh tác có tác động lớn đến vai trò phòng ngừa này, mang tính giáo trình từ nhiều năm nay. Canh tác chống “soil compaction” (đất chai cứng), chống sa mạc hóa, chống suy thoái/ thoái hóa đất, xét về độ phì nhiêu,.. Cày đất với tần suất bao nhiêu là vừa, luân canh/xen canh, bón phân cân đối là nội dung tuy cũ, nhưng vẫn còn mới trong nông nghiệp hữu cơ, với khái niệm green fertilization” (phì nhiêu xanh, thân thiện môi trường). Sức khỏe của rễ gắn liền với sức khỏe của cây, giúp cây tăng cường hệ thống tự bảo vệ, hệ thống miễn nhiễm.

Biện pháp luân canh (crop rotation) được thảo luận khá dài trong nông nghiệp hữu cơ, với những lợi ích như sau: (1) cải thiện được cấu trúc đất; (2) gia tăng độ phì nhiêu đất; (3) quản lý cỏ dại, sâu bệnh; (4) giảm thiểu nhiều rủi ro trong nông nghiệp; (5) gia tăng sự cố định đạm thông qua vi khuẩn cộng sinh của cây họ đậu; (6) cải tiến được cân đối N-P-K cả hai nguồn phân hữu cơ và vô cơ.

Ví dụ luân canh trong BVTV tại châu Âu (Karov et al., AUP, 2013): Năm thứ nhất (2005) trồng cỏ alfalfa: cung cấp nguồn cỏ khô chất lượng tốt, tăng độ phì đất, cải thiện có nhiều nguồn bệnh trong đất. Năm thứ hai (2006) trồng Cải bó xôi (spinach) và lúa mì. Năm thứ ba (20078) trồng Khoai tây. Năm thứ tư (2008) trồng Cà rốt và Hành tây: ức chế pathogen trong đất, ngăn ngừa nấm

Psila rosae Delia radicum. Năm thứ năm (2009) trồng Ớt. Năm thứ sáu (2010) trồng Lúa mạch đen (Rye) và Đậu Đỗ mùa đông (winter pea). Năm thứ bảy (2011) trồng Cà chua và Tỏi tây (leek): cho kết quả phòng chống pathogen trong đất tốt. Năm thứ tám (2012) trồng Đậu cô ve (bean) và đậu Hà Lan (pea): làm giàu đất với N hữu cơ. Sau đó (2013), thực hiện kế hoạch trồng Lúa mạch và Bắp cải.

2. Các biện pháp phòng ngừa

Phòng ngừa bằng biện pháp canh tác bao gồm:

  •      - Xen canh (intercropping).
  •      - Trồng từng băng xen kẽ, mỗi băng mỗi loài khác nhau (stripe cropping).
  •      - Trồng nối tiếp nhau sau mỗi loài cây trồng khác nhau (relay cropping).

Ví dụ trồng xen canh tỏi đen và cần tây (celery) phòng ngừa được bệnh rỉ sắt và bù lạch; trồng xen bắp và cây họ cà (ớt, cà tím, cà chua) phòng ngừa được “leaf hopper”; cà rốt trồng xen với tỏi đen phòng ngừa được ruồi đục cà rốt (carrot fly); tỏi trồng xen dâu tây phòng ngừa được nhiều pathogens.

Phòng ngừa bằng đa dạng cây trồng (crop diversity) bao gồm:

  •      - Cánh đồng hữu cơ (organic fields).
  •      - Kết hợp nhiều biện pháp canh tác với nhau (associated mixed cultures).

          + Tạo ảnh hưởng đa chiều trong BVTV (multiple plant protection effect).

          + Cây cúc calendula trồng rải rác trong líp rau chống được nhện đỏ (mite) và nhiều pathogens;

          + Cây bông vạn thọ (Tagetes erecta) hoặc rau dền (Amaranthus) làm bẫy để bắt giữ tuyến trùng có hại.

Sử dụng giống cây trồng kháng/chống chịu stress sinh học

  •      - Giống thích nghi với điều kiện sinh thái là điều kiện tiên quyết, có những giống mang tính chất “native variety” (giống bản địa) phải được bảo tồn.
  •      - Giống kháng hoặc chống chịu sâu bệnh hại chính
  •      - Chiến lược giống kháng là một ngành khoa học rất lớn, sẽ được thảo luận riêng và chuyên sâu. Điều cơ bản là làm sao quản lý tính kháng này một cách bền vững.

Sử dụng phương pháp vật lý

  •      - Xử lý nhiệt (heat treatment).
  •      - Vệ sinh, kiểm dịch (sanitation).
  •      - Soil solarization: đối với vùng có nhiệt độ đất vào múa hè cao (>60ºC), dùng năng lượng này để giết chết pathogen và hạt cỏ dại.

Sử dụng phương pháp cơ học

  •      - Bẫy đèn
  •      - Bẫy màu vàng
  •      - Bẫy nước
  •      - Băng có chất dính

Sử dụng phương pháp đấu tranh sinh học (BIOCONTROL)

  •      - Định nghĩa đấu tranh sinh học (ĐTSH) của Smith (1919): ĐTSH là phương pháp điều tiết mật số quần thể của sâu hại, bằng cách sử dụng thiên địch có trong tự nhiên, hay do người ta nuôi thả ra môi trường.
  •      - Tiêu diệt tận gốc sâu hại.
  •      - Xây dựng những hệ thống sinh thái canh tác gần giống với tự nhiên

Quản lý nguồn bệnh bằng vi sinh vật ký sinh trên nguồn bệnh: vi sinh vật ký sinh trên côn trùng (nấm xanh, nấm trắng), những con tuyến trùng có tính chất “gây bệnh cho sâu”, những tuyến trùng có ích cho nhà nông.

Người ta còn nghiên cứu và phát triển nhiều loài côn trùng có ích trong đấu tranh sinh học với côn trùng có hại, ví dụ con “lacewing”, ong ký sinh, ong ăn mồi, bọ rùa ăn mồi, nhện; đặc biệt các loài ong ký sinh khá phổ biến trong nông nghiệp nhiệt đới. Đây là những đối tượng rất nhạy cảm với thuốc hóa học, nên quần thể của chúng không ổn định, ít khi trùng khớp với chu kỳ sống của sâu hại trên đồng ruộng.

 Sử dụng chất dẫn dụ PHEROMONES

Pheromone là những chất được sử dụng như những tín hiệu hóa học giữa các cá thể cùng loài, những chất này được tiết ra ngoài cơ thể côn trùng và có thể gây ra những phản ứng chuyên biệt cho những cá thể khác cùng loài. Đôi khi chất này còn được gọi là hormone xã hội (social hormone) hay được xem như một hệ thống thông tin hóa học. Có loài chỉ sản xuất một số ít pheromone, một số loài khác lại có khả năng sản xuất nhiều hơn. Hệ thống pheromone khá phức tạp ở các loài côn trùng sống thành xã hội bầy đàn. Thông tin hóa học này khác với cơ quan thị giác hay thính giác. Sự truyền bá thông tin bởi pheromone tương đối chậm (pheromone phân tán trong không khí) nhưng tín hiệu của pheromone được duy trì lâu, xa và đôi khi đến vài km hay xa hơn nữa. Sử dụng “synthetic sex pheromone” bao gồm:

  •      - Bẫy pheromones (dục tình hương tự nhiên): chủ yếu để dẫn dụ con đực
  •      - Dispensers (chất do người ta bào chế giống như dục tình hương): diammonium phosphate, pyrethroids (deltamethrin hoặc lambdacyhalothrin)
  •      - Bột có tính chất tĩnh điện (electrostatic powder)
  •      - Kết hợp với chất triệt sinh (chemosterilant) với pheromone o   Kết hợp với bẫy dính có màu với pheromone.

Theo số liệu đã thống kê, có hơn 900 loài côn trùng có hại đã có thể được người ta áp dụng pheromones để dẫn dụ chúng vào bẫy, và tiêu diệt chúng. Pheromones và những hóa chất tổng hợp giống như dục tình hương được sử dụng (1) theo dõi côn trùng; (2) bảo vệ trực tiếp mùa màng; (3) làm xáo trộn sự thụ tinh của côn trùng; (4) bắt giữ được số lượng lớn con trưởng thành vào bẫy (mass trapping)

no photo

_tensanpham

Giá: 0 đ

Mô tả